R.K. SA-KU-RỐP
Gửi những người bạn thân mến của tôi! R.K.Sa-Ku-Rốp nhà giáo dục học xuất sắc của Liên bang Xô viết có bài “37 điều đáng ghi nhớ đối với người hiệu trưởng mới” đăng trong tập “Người hiệu trưởng với tập thể giáo viên” ở Tạp chí “Những tri thức mới trong đời sống, khoa học, kỹ thuật” phân tích sư phạm và tâm lý, số 3/1979; NXB “Tri thức” , Maskova-1979
. “Người hiệu trưởng mới” có thể là “mới” về thâm niên nghề nghiệp; “mới” về suy nghĩ, về cách làm, về phương pháp quản lý giáo dục trong thời đại mới… Bài viết đã trên 30 năm, nhưng vẫn còn nguyên giá trị. Nó không chỉ có tác dụng đối với những người mới “tập làm” hiệu trưởng, làm cán bộ quản lý; mà còn có ý nghĩa cả đối những người đã có thâm niên quản lý nhà trường nhiều năm… Năm mới Canh Dần chúc các bạn sức khoẻ, hạnh phúc, nhiều thành công trong công việc!
1- Phong cách làm việc của V.L. Lê nin là tấm gương sáng đối với mỗi cán bộ lãnh đạo. Đặc trưng cơ bản của phong cách đó là: sự đảm bảo tính đảng, tính nguyên tắc trong giải quyết, quyết định bất kỳ vấn đề nào; tự liên hệ thường xuyên giữa khoa học với thực tiễn; xác định rõ chức năng – nhiệm vụ của từng người; tính hệ thống và thứ tự trong công việc; sự yêu cầu, đòi hỏi và khuyến khích những sáng tạo, tự lực của cán bộ giáo viên; kiểm tra sự thực hiện; tính tập thể trong điều khiển, sự tế nhị và đôn hậu với mọi người; tính giản dị và khiêm tốn; sự thường xuyên liên hệ và quan tâm đến quyền lợi, nguyện vọng của quần chúng.
2- Luôn học hỏi nghệ thuật lãnh đạo (điều khiển), đó là việc làm thường xuyên của người hiệu trưởng, không phụ thuộc vào tuổi tác và kinh nghiệm. Thành công chỉ đến với những ai luôn cải tiến phong cách làm việc, biết phân tích, sửa chữa những thiếu sót, tồn tại, không ngừng tìm tòi những hình thức, biện pháp hợp lý trong công việc lãnh đạo tập thể.
3- Lê-nin nhấn mạnh rằng: người lãnh đạo phải có sức thuyết phục, thu hút, lôi cuốn quần chúng một cách mạnh mẽ, phải có một trình độ khoa học và chuyên môn ( tay nghề ) đủ để kiểm tra công việc.
4- Lôi cuốn, thuyết phục quần chúng trước hết bằng thiện chí, bằng sự tôn trọng, đối xử đúng đắn, thẳng thắn, công bằng với mọi thành viên trong tập thể, bằng sự giúp đỡ một cách thành tâm, cụ thể và khéo léo trong công tác của họ.
5- Kết quả trong công việc của nhà trường phụ thuộc phần lớn và sự quyết định và giải quyết vấn đề một cách kịp thời. Những quyết định đó phải có mục đích ( mục tiêu ) rõ ràng về những công tác cấp bách nhất của nhà trường.
6- Sức mạnh của những quyết định còn phụ thuộc ở quyết định đó có thực sự hướng quyết định vào việc hoàn thiện quá trình giáo dục – giáo dưỡng và có phản ánh được tâm tư, kinh nghiệm của giáo viên hay không. Những quyết định chỉ nhằm hướng tới thành tích có tính chất bề ngoài giả tạo của công việc sẽ làm cho tập thể mất hào hứng và gây phiền nhiễu cho họ.
7- Thông thường, hiệu trưởng chỉ nên quyết định những vấn đề mang tính chất nguyên tắc,có liên quan tới công việc chung của cả tập thể nhà trường. Những vấn dề chuyên biệt khác, nếu xét thấy có thể được, thì nên uỷ nhiệm cho các phó hiệu trưởng hoặc giáo viên quyết định. Sự tự chủ, sự dám quyết định trong phạm vi chức năng nhiệm vụ được giao có tác dụng bồi dưỡng cho mỗi thành viên trong tập thể tinh thần trách nhiệm, sáng tạo, linh hoạt, dám nghĩ – dám làm và nâng cao hào hứng trong công tác.
8- Không bao giờ đề ra, hoặc thông qua những quyết định trong tình huống tâm tư, tình cảm bị kích động, không bình ổn. Điều đó dễ dẫn tới những sai lầm, khó có thể chỉnh lý, sửa chữa.
9- Các quyết định có được thực hiện tốt hay không còn phụ thuộc vào uy tín và sự đòi hỏi của người lãnh đạo, vào cách thức phân công, phân nhiệm và nghệ thuật điều hành của người lãnh đạo; phụ thuộc vào sự kiểm tra, khen, chê, thưởng, phạt kịp thời và tài nghệ biết dựa vào sức mạnh tổng hợp của tập thể.
10- Uy tín của người hiệu trưởng được xác lập trước hết ở phẩm chất tư tưởng – đạo đức, tinh thần dám chịu trách nhiệm, dám nghĩ – dám làm, ở sự thạo công việc, trình độ hiểu biết chung và khả năng nêu gương mẫu cho người khác trong công việc.
11- Sự yêu cầu, đòi hỏi nghiêm túc, chặt chẽ của hiệu trưởng là cơ sở của tính chuẩn xác, kỷ luật, tự giác trong công tác của cơ chế nhà trường.
12- Sự yêu cầu, đòi hỏi nghiêm túc, chặt chẽ còn biểu thị sự tôn trọng, sự đánh giá cao lao động của giáo viên, biểu hiện tinh thần không khoan nhượng đối với những chất lượng tồi trong công tác và biểu thị tinh thần quyết tâm, phấn đấu cao trong việc đạt chỉ tiêu công tác.
13- Những đòi hỏi, yêu cầu phải mang tính hệ thống, liên tục. Nếu chỉ nhất thời, không liên tục, thì thường xuyên đầy rẫy những sự “xung đột” và không mang lại kết quả mong muốn.
14- Những yêu cầu, đòi hỏi do người hiệu trưởng đề ra luôn phải xuất phát từ lợi ích của công việc chung, phải đúng đắn và khách quan.
15- Những yêu cầu về chất lượng công tác đề ra phải trên cơ sở tính toán đến khả năng và điều kiện của mỗi giáo viên. Những đòi hỏi quá sức thường gây ra những phản ứng, đối phó. Những yêu cầu có tính chất kỷ luật – nguyên tắc cần được áp dụng đồng nhất với mọi người trong tập thể.
16- Điều khiển công việc của giáo viên, tốt nhất nên tiến hành theo phương thức uỷ thác, giao nhiệm vụ, không nên chỉ thiên về biện pháp mệnh lệnh, hành chính. Giáo viên cần được hiểu một cách cặn kẽ và minh xác về nhiệm vụ của mình. Người lãnh đạo nhất thiết cần phải chỉ rõ yêu cầu chất lượng công tác phải đạt và thời hạn phải hoàn thành.
17- Người hiệu trưởng phải luôn quan tâm đến việc làm cho những yêu cầu do mình đề ra được sự ủng hộ, hưởng ứng của tập thể. Đó là điều kiện quan trọng của việc giáo dục cho giáo viên mối liên quan qua lại giữa tính chất, yêu cầu và tính kỷ luật trong công việc.
18- Chỉ có thể đề ra những đòi hỏi, yêu cầu cho giáo viên một cách đúng đắn khi hiệu trưởng đã hiểu mọi người, biết rõ những mặt mạnh, mặt yếu của họ. Xem xét một giáo viên, trước hết nên tìm cho ra những ưu điểm của người đó: đối với lợi ích của công tác, điều quan trọng không phải ở cái mà người giáo viên đó không thể làm được, mà ở cái mà người giáo viên đó có thể làm được.
19- Khi uỷ nhiệm và giao việc, nên tính toán không những khả năng mà còn tới cả những hứng thú (khuynh hướng) của giáo viên đó. Sự phân công, phân việc đều tay giữa các thành viên trong tập thể là điều rất cần chú ý.
20- Cách thức chủ yếu để hiểu biết giáo viên là phân tích những hoạt động,những công việc làm của người đó. Người hiệu trưởng cần phải đánh giá mọi thành viên trong tập thể mình phụ trách một cách có cơ sở và thực sự cầu thị. Sự phân định, đánh giá về một con người nếu chỉ dựa trên những dư luận phong thanh, chưa được điều tra kiểm nghiệm cụ thể, là điều không thể chấp nhận được.
21- Việc hiệu trưởng đi dự các tiết dạy của giáo viên, trước hết nhằm giúp đỡ họ về phương pháp dạy học và để nghiên cứu những kinh nghiệm tốt. Trong trường hợp, khi cần, thấy giáo viên có những khó khăn trong công tác, nên bàn bạc để tiến hành xem xét việc giáo viên đó lên lớp, đặng trao đổi với nhau những thành công, thất bại. Đó là một cách làm tốt nhất của người lãnh đạo. Nếu giáo viên sợ làm việc đó, hiệu trưởng nên nghĩ cách để có thể cải tiến việc giao tiếp và tiến hành sự phân tích, đánh giá các giờ lên lớp một cách tinh tế và thích hợp.
22- Trong quá trình kiểm tra, điều quan trọng là phát hiện cho được những mạnh mặt, những ưu điểm của mỗi giáo viên, kể cả ở những giáo viên thuộc loại yếu kém nhất. Những lời ngợi khen, tốt đẹp cũng là biện pháp có tác động đến động cơ thúc đẩy lao động của người giáo viên, cũng là nguồn động lực hỗ trợ họ làm việc một cách có sáng tạo.
23- Những thành tích, thành công của các cá nhân giáo viên, tôt nhất là kịp thời biểu dương trước tập thể và các đồng nghiệp. Còn về những khuyết điểm, tồn tại thường nên giải quyết theo phương thức trao đổi riêng biệt. Việc phân tích, phê phán công khai những sai sót, tồn tại của cá nhân trước tập thể chỉ nên tiến hành khi đối tượng đó không thành khẩn tiếp thu phê bình. Hết sức tránh việc khiển trách giáo viên trước mặt học sinh và phụ huynh học sinh.
24- Khi kiểm tra, không nên đi vào những cái quá vụn vặt, có thể làm giảm tính năng động, sáng tạo và tự lực của giáo viên. Trong những tập thể có kỷ cương và được điều khiển một cách đúng đắn, thì trọng tâm của việc kiểm tra thường xuyên chuyển từ việc kiểm soát sự hoàn thành nhiệm vụ và công việc được giao sang việc nghiên cứu sâu sắc những phương thức, phương pháp, kinh nghiệm làm việc của người giáo viên và sang việc phân tích sư phạm.
25- Nếu thấy rằng công việc đề ra không được thực hiện và hoàn thành như ý mong muốn, người hiệu trưởng không được mất bình tĩnh. Bởi vì sự phân tích tế nhị những phẩm hạnh của giáo viên đó, cùng với sự biểu lộ tin tưởng rằng những thiếu sót ấy sẽ được khắc phục nhanh chóng trong một thời gian ngắn, bao giờ cũng có tác dụng mạnh mẽ hơn là sự nóng nảy, phẫn nộ. Sự thiếu bình tĩnh, la lối om sòm “đao to – búa lớn” biểu thị trình độ văn hoá thấp và dấu hiệu của sự yếu kém, bất lực của người lãnh đạo.
26- Trong trường hợp bằng sự giải thích, yêu cầu, khuyên nhủ mà không đem lại kết quả mong muốn, thì có thể áp dụng biện pháp kỷ luật. Khi tiến hành biện pháp này cần lưu ý như sau:
a) Không bao giờ thi hành kỷ luật một cách vội vàng, nóng nảy trong tình huống mất bình tĩnh;
b) Việc thi hành kỷ luật, trừng phạt là biện pháp bất đắc dĩ trong nhà trường. Bởi vì, nếu tình hình ngược lại thì việc làm trở nên mất tác dụng;
c) Chỉ nên bắt phạt sau khi đã xác định chuẩn xác về thiếu sót, sai lầm của giáo viên;
d) Mức độ kỷ luật phải tương xứng với yêu cầu của quy chế lao động;
e) Những tiến hành về kỷ luật của hiệu trưởng cần được sự đồng tình của tập thể, đặc biệt là của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường.
27- Nếu giáo viên tuy đã nỗ lực, cố gắng, song chưa thể làm tốt công tác, thì không nên dùng biện pháp kỷ luật, mà phải tìm cách giúp đỡ cụ thể. 28- Hiệu trưởng giáo huấn người khác, trước hết bằng kinh nghiệm tốt về “người thực, việc thực” trong tập thể và bằng sự gương mẫu của chính mình. Tục ngữ dân gian có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy”.
29- Tạo ra được bầu không khí thân ái, ấm cúng, vui tươi, đặng gắn bó với giáo viên và đẩy mạnh cao độ tinh thần sáng tạo trong công tác sư phạm là một chủ đề công việc hàng ngày của hiệu trưởng. Tâm trạng của người giáo viên phụ thuộc rất lớn vào sự thắng lợi, thành công trong công tác, vào không khí nhiệt tâm giúp đỡ nhau trong tập thể và vào sự tổ chức lao động một cách hợp lý. Hiệu trưởng là người góp phần quan trọng trong việc tạo ra, hỗ trợ và duy trì tâm trạng lạc quan, tinh thần nâng cao trình độ sáng tạo của giáo viên trong tập thể sư phạm.
30- Người lãnh đạo phải thường xuyên duy trì mối quan hệ đoàn kết nhất trí trong tập thể, phải biểu hiện rõ được ảnh hưởng, uy tín cao của mình, đặng có thể giải quyết, thanh toán kịp thời, nhanh chóng những sự bất đồng ý kiến, những tranh luận “xung đột”, những hiện tượng không hay giữa các nhà sư phạm.
31- Đối xử công bằng với mọi thành viên trong tập thể là một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo khối đoàn kết, nhất trí. Hiệu trưởng phải hết sức tránh biểu lộ “cảm tình cá nhân” trong quan hệ công tác. Ưu ái, chiếu cố người này; xa cách, thành kiến người kia – đó là dấu hiệu biểu hiện sự non kém của hiệu trưởng trong việc lãnh đạo tập thể.
32- Một điều quan trọng nữa nhằm đảm bảo khối đoàn kết nhất rí – đó là quan niệm đúng đắn của người lãnh đạo đối với vấn đề phê bình, tự phê bình. Những thành viên trong tập thể, mà thường chỉ ra một cách công khai, thẳng thắn các thiếu sót, tồn tại của nhà trường, của hiệu trưởng, thì đó chính là những người bạn “đồng minh” đáng tin cậy. Những kẻ xu nịnh, không vì lợi ích của tập thể và công việc chung, thường né tránh đấu tranh, phê bình; mà chỉ lo tìm mọi cách để tâng bốc, tán tụng những công lao của người lãnh đạo nhà trường.
33- Nếu người lãnh đạo nghe được những dư luận, những ý kiến không tốt và không đúng đắn về mình thì phải hết sức bình tĩnh, kiên nhẫn cải chính, bác bỏ dư luận đó, đặc biệt là bằng việc làm và chỉ bằng việc làm. Khi đó mọi người dễ dàng phân biệt đâu thực, đâu hư. Khuynh hướng trả đũa, chỉ trích làm mất uy tín của đối phương chỉ làm cho sự việc căng thẳng hơn và thường là làm tổn hại đến uy tín của người lãnh đạo trong tập thể.
34- Người hiệu trưởng phải biết quý trọng thời giờ và sức lực của giáo viên, phải biết làm việc một cách say sưa theo công việc đã được kế hoạch hoá của mình. Cần phải bố trí, giành cho giáo viên có một “quỹ thời gian” cần thiết đủ để làm công việc của minh, cũng ví tựa như như nhựa dinh dưỡng cần thiết cho cây cối.
35- Người lãnh đạo nên phân tích một cách có hệ thống và bố trí sắp xếp một cách hợp lý công việc riêng của mình. Điều quan trọng nhất là phải kế hoạch hoá một cách rõ ràng về chương trình công tác, rèn tập cho mình ( và cả những người khác ) thói quen thực hiện tốt thời gian biểu hàng ngày đã quy định.
36- Một trong những cách quan trọng tiết kiệm thời gian – đó là sự thông báo tối thiểu về tần số và thời gian các cuộc họp, về nội dung tất cả những văn bản, dự án; đó là sự uỷ thác cho những thành viên trong tập thể quyền có thể tự giải quyết những vấn đề trong phạm vi rộng hơn.
37- Người hiệu trưởng, dù trong tình huống khó khăn nhất, cũng không có quyền thủ tiêu hay làm cản trở sự đấu tranh nhằm hoàn thành những nhiệm vụ đã đặt ra cho tập thể. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng có những lối thoát, những cách giải quyết. Ta cần tìm cho ra cách giải quyết đó./.
Các ý kiến mới nhất